Ê, Hal!

Nghe tiếng gọi quen thuộc, Hal quay lại nhìn thấy Rob đứng gần hàng sau cùng trên chiếc tàu đổ bộ LCA, nụ cười thật tươi quen thuộc, tay đưa trái táo xanh lên cao ra hiệu với mình. Hal vẫy tay chào bạn thân của mình. Rob thẩy trái táo cho Hal. Phản ứng nhanh nhẹn một cách tự nhiên như khi chơi banh, Hal đón và bắt dính lấy trái táo thật gọn gàng. Trước khi vào quân đội, Hal, đã từng chơi baseball giỏi có tiếng, trong đội banh của New York University. Cắn giữ trái táo nơi miệng, Hal xếp trang thư cất trở lại vào túi áo bên trong. Thư viết cho chị mình từ trước khi xuống tàu, nhưng Hal không gởi đi, những nhắn nhủ trong thư như lời trăn trối sau cùng: "Xin Chị đừng trông mong em còn sống để trở về..." Cũng như hầu hết 140 ngàn binh sĩ của lực lượng Đồng Minh đánh chiếm Normandy, đều còn trẻ tuổi; Hal, Harold Baumgarten, cũng mới 19 tuổi. Họ biết từ trong trái tim đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ: mình đang làm điều phải làm, không chỉ cho quốc gia của mình, cho gia đình mình mà còn cho quyền tự do của nhân loại trên thế giới. Hal ngưng theo chương trình Đại Học, tình nguyện vào lính để đánh đuổi Nazi Đức còn có thêm lý do riêng của mình: anh là người Do Thái. Hal không thể quay lưng trước khổ nhục mà dân tộc Do Thái của anh đã và đang bị quân Nazi hành hạ, thảm sát một cách vô cùng man rợ. Hy vọng và niềm tin tất thắng của chính nghĩa đã làm Hal cũng như đồng đội đã không còn sợ hãi.

Như những quân nhân Do Thái khác, Hal được quyền thay đổi tôn giáo trong lý lịch cá nhân, để khỏi bị quân Nazi sát hại dã man khi bị bắt. Thế nhưng, Hal không sợ hãi, anh vẫn giữ nguyên Do Thái Giáo, với chữ Jewish khắc trên tấm thẻ bài của mình. Ngoài ra, Hal còn lấy viết đen vẻ hình Star of David, ngôi sao sáu góc, thật lớn trong vòng chữ BRONZ, NEW YORK; hình thật to, chiếm trọn lưng áo trận. Anh nghĩ rằng: anh sẽ chết; nhờ thẻ bài và dấu hiệu này, thân hữu dễ nhận ra xác của anh hơn.

 

Sau những chặng tập họp, di chuyển, đơn vị của Hal gồm 30 người, trong đó có 1 sĩ quan chỉ huy, xuống tàu xong từ 3 giờ 15 sáng. Tất cả đã từng thao dợt nhiều lần, mỗi người đều biết vị trí của mình trên tàu đổ bộ LCA; được điều khiển bởi 3 thủy thủ, thuộc hải quân Anh. Tất cả các đơn vị thuộc lực lượng Đồng Minh, cùng xuất phát từ nước Anh hôm nay, đều biết rằng: lần xuống tàu rời căn cứ ở nước Anh này, không còn là "dry run", không phải là thao dợt như cả năm nay, mà sẽ thật sự đổ bộ lên Normandy của nuớc Pháp, đối đầu với kẻ thù của thế giới tự do là quân Nazi Đức; tất cả đều biết và chấp nhận không còn sống sót để trở về với gia đình.

 

Bãi biển Normandy dài 80 km được chia làm 5 đoạn, với các ký danh: Utah, Omaha, Gold, Juno và Sword.

Mỷ nhận Utah và Omaha. Anh chịu trách nhiệm Gold và Sword. Các đơn vị tham chiến của Canada có nhiệm vụ đổ bộ lên Juno; trước nhất tạo thành tuyến nối liền Gold và Sword ở hai bên mình, sau đó đánh chiếm phi trường Carpiquet và tiến đến địa điểm đóng quân sau cùng trong đêm, để giành quyền kiểm soát đường xe hoả ở trạm Caen-Bayeux.

Trước đó, vào lúc 0 giờ 16 phút sáng, Ivor Anderson cùng 180 đồng đội thuộc đơn vị đặc biệt của lực lượng nhảy dù Anh Quốc, đã đáp xuống Normandy. Điều Ivor sợ hãi tột cùng lúc này, không phải là cái chết, mà chính là cây trung liên Bren, nặng gần 11kg, bị rơi mất sau khi Ivor nhảy ra khỏi phi cơ. Danh dự và trách nhiệm của một quân nhân làm Ivor rất xấu hổ và lo lắng khi nghĩ đến lúc phải trình diện cấp chỉ huy để trình bày lý do mất vũ khí!

Trong 20 phút, Ivor cùng đồng đội có nhiệm vụ tận dụng kỹ thuật đã được huấn luyện cùng mọi phương tiện và với chất nổ mang theo, để dọn trống bãi đáp cho 6 chiếc Horsa “gliders”. Đây là loại phi cơ không động cơ, được kéo theo phía sau phi cơ vận tải, chỉ dùng để đổ quân. Mỗi chiếc chở được 28 quân nhân. Sau khi được cắt rời khỏi phi cơ chính, hai phi công gan dạ chỉ dùng tốc độ sẵn có, để khéo léo đáp Horsa xuống bất cứ khoảng trống nào thuận lợi nhất; họ không cần giữ Horsa còn nguyên vẹn, chỉ cần tránh được nguy hại cho binh lính bên trong mà thôi. Nhiệm vụ của các đơn vị nhảy dù Anh là chiếm căn cứ pháo binh của Đức ở Merville, khoá họng các khẩu đại bác 100 ly hướng về tuyến đổ bộ của Đồng minh từ English Channel, giữ hai cây cầu chiến lược ở sông Orne và kinh đào Caen, sau đó phá huỹ cầu Dives để ngăn chận quân tiếp viện của Đức. Trung úy Den Brotheridge là quân nhân đầu tiên tử trận trong D-Day.

Cùng thời gian đó, 450 lính thuộc đơn vị đặc biệt của nhảy dù Canada cũng đáp xuống, ngay trong lòng địch, để bảo vệ cho bộ binh đổ bộ lên bãi Juno vào lúc sáng sớm.

Từ sau 0 giờ, đã có đến 24 ngàn quân nhân Mỷ, Anh và Canada đã nhảy dù xuống đất Pháp, để chiếm các điểm chiến lược, tạo phòng tuyến bảo vệ cho bộ binh tấn công từ bãi biển Normady.  

 

Mới đầu tháng 6. Đã gần 6 giờ sáng, đúng ra đã có ánh bình minh, nhưng giông bão kéo dài từ mấy ngày qua ở English Chanel làm trời u tối, thật ảm đạm. Cơn bão lớn nhất trong suốt 20 năm, ở vùng biển này.

Quân đội Đồng minh không thể đình hoãn thời điểm tấn công Đức; đành phải đặt niềm hy vọng vào tin tình báo bí mật của hải quân, từ một tàu đo đạt khí tượng nằm ở toạ độ cách Normandy khoảng 2000 miles; các chuyên viên khí tượng trên tàu bất chợt khám phá ra: cơn bão sẽ ngưng dịu vào ngày 6. Chọn đổ bộ lên Normandy trong thời tiết xấu, lợi dụng được lúc quân Đức xao lãng phòng bị, các cấp chỉ huy rời căn cứ để nghỉ phép; ngay cả Tổng Tham Mưu Erwin Rommel, viên tướng mưu lược, từng được mệnh danh là "Desert Fox", hôm qua cũng tự tin vào thời tiết, về nhà để dự tiệc mừng sinh nhật vợ.

Chiến dịch Operartion Bodyguard của Đồng minh khởi động từ cả năm trước, nhầm đánh lừa Đức: sẽ tấn công lên Pháp từ Pas de Calais, nơi cách Normandy đến hơn 241 cây số. Điều này hợp lý, dễ tin, vì eo biển nơi đây ngắn nhất trong English Channel, cách Dover bên nước Anh chỉ khoảng 33 cây số mà thôi. Họ nguỵ tạo bố trí trận địa với quân xa, xe tăng, phi cơ giả bằng cao su thổi phồng, hay biến những chiếc Jeep cỏn con thành các đoàn thiết giáp cồng kềnh đang di động,…

Quân Nazi thật sự lo sợ, tập trung lực lượng để ngăn chận bị tấn công từ Calais. Đức chỉ để lại 600 quân dự phòng ở Normady.

Thế nhưng, vào cuối tháng Mười Một, khi đi thanh tra “Atlantic Wall”, tuyến phòng thủ dọc theo bờ biển kéo dài từ Norway đến Spain, chính Rommel đã tinh ý nhận ra Normandy có nhiều đặc điểm tương quan với bãi biển Salerno, nơi Đồng minh đã đổ quân thắng lợi lên nước Ý, vào năm 1943. Thế rồi, chỉ trong 6 tháng, lực lượng quân Đức đóng ở Normandy được tăng cường gắp đôi quân số và Rommel ra lệnh cắp tốc xây đúc hệ thống pháo đài rất kiến cố và thiết kế các thứ chuớng ngại vật, cùng mìn bẫy trên khắp bãi biển, để ngăn chận và tiêu diệt mọi phương cách tấn công từ biển vào, bao gồm tàu chiến, thiết giáp, bộ binh… ngay tại bãi biển ở Normady.

 

“Let’s go.”

Khẩu lệnh ngắn gọn của Tổng Tư Lệnh Dwight Eisenhower, đã khởi động chiến dịch Operation Overlord, tấn công Nazi Đức.

Bấy giờ là 9 giờ 45 phút đêm hôm qua, ngày 5 tháng 6, năm 1944.

 

Hôm nay là ngày 6.

Bây giờ là 6 giờ 30 phút sáng.

Lúc này, tốc độ gió vẫn còn đến 50 km/ giờ, đẩy sóng biển dâng cao gần 2 mét, tạt tràn vào lòng tàu.

Sóng đập vào các chiếc LCA dồn dập, làm đoàn tàu đổ bộ bị chao đảo thật dữ dội. Cả ba tiếng đồng hồ đứng trong lòng tàu, chân ngâm trong nước biển tràn vào, lạnh như sắp đông thành đá, những người lính với quân trang nặng nề còn bị sóng xốc đẩy vào nhau. Bửa ăn sáng thật thịnh soạn hồi sáng sớm, chưa đủ thời gian tiêu hóa, đã bị nôn tháo xuống lòng tàu tràn ngập nước biển. Hầu hết lính trên tàu bị say sóng, say thật thê thảm. Dù vậy, tất cả vẫn gắng gượng dùng nón sắt, hối hả tát nước ra ngoài, để giữ cho tàu đừng chìm ngay. Lúc vào phòng ăn, Hal không thấy đói, chỉ ăn cây kẹo chocolate cho buổi điểm tâm. Sau đó, Rob thẩy cho trái táo. May mắn thay, Hal không bị say sóng. Chưa đến điểm đổ bộ binh lính trên tàu bị say sóng, khả năng chiến đấu giảm đến hơn phân nửa.

Đoàn tàu đổ bộ vừa chạm bãi biển Omaha, chiếc LCA kế bên hứng trọn trái đạn pháo, nổ tung. Thi thể, máu đồng đội cùng nước biển tung lên, rồi đổ ập lên tàu chở đơn vị của Hal. Kinh hoàng!

 

Trước đó, 4 tiếng đống hồ, 446 phi cơ mang 13 ngàn bom, tương đương với khối lượng chất nổ đến cả ngàn tấn, nhầm phá hủy công sự phòng thủ của quân Đức dọc bãi biển. Vì thời tiết quá xấu, mây dày đặc, giới hạn tầm nhìn của phi công, họ phải dựa vào rada để định mục tiêu. Muốn tránh gây thiệt hại cho đơn vị hải quân đang đến gần bờ biển, phi công được lệnh trì hoãn 5 đến 30 giây khi đến tọa độ thả bom đã định. Thế nhưng, với độ cao và tốc độ phi hành, chỉ cần chậm 5 giây, bom rơi lệch mục tiêu cả nửa cây số, chậm đến 30 giây làm bom rơi xa điểm chấm đến hơn 2,400 km. Do đó, hệ thống phòng thủ của Đức coi như không hề bị thiệt hại bởi bom của Không quân. Hải quân và Bộ Binh đành phải tự lo liệu lấy mình. Vì vậy, ngay khi cửa chiếc LCA vừa mở ra, đã là mục tiêu cho các loại súng của lính Đức từ các pháo đài. Đạn nã vào kim loại của thành tàu tóe lửa. Trong chớp nhoáng, những binh lính đứng gần cửa bị trúng đạn nối nhau ngã gục, trước khi họ kịp rời tàu, trước ánh mắt kinh hoàng của đồng đội. Hal và những người phía sau chọn lối thoát hiểm rất nguy hiểm, đó là leo ngang qua thành tàu rồi nhảy xuống biển, để bơi vào bờ. Thật vậy, hầu hết đều bị chết chìm với quân phục và quân dụng quá nặng, hay vẫn bị trúng đạn của lính Đức, chết trước khi trồi lên mặt biển để thở. Sự khác biệt giữa sống và chết ở nơi đây chỉ cách nhau vài lóng tay; sâu hơn 1m trong nước biển, đạn mới không xuyên tới.

Trong hai phút, 1400 binh lính của đợt đổ bộ đầu tiên chỉ một phần ba sống sót!

Những người còn sống lúc này, từ bãi biển họ còn phải vượt qua tử địa dài gắp ba sân chơi “foot ball”, phòng thủ với các pháo đài xây đúc thật kiên cố, với hơn 37 ngàn các loại chướng ngại vật nguy hiểm, trong đó có hơn 17 ngàn trái mìn chôn gài ở chặn sau cùng; dưới hoả lực của pháo binh và vũ khí mới của quân Đức là đại liên MG 42.

Đại liên MG 42 được cấp phát cho lính Đức thay thế loại súng MG 34. Bắn cùng loại đạn 7.92×57mm Mauser, nhưng MG 42 có hoả lực thật sự kinh khiếp, với tốc độ bắn nhanh gắp đôi M1919 Browning và Bren của quân đội Đồng Minh. Trong một phút, MG 42 có thể bắn từ 1200 đến 1500 viên; tức là trong tíc tắc đã có đến 25 viên đạn bay ra khỏi nòng. Đạn bắn ra nhanh đến độ người ta không thể nào nghe được tiếng nổ của mỗi viên, nghe như tiếng xé lụa; có biệt danh là “Hitler’s Zipper”!

 

Hal may mắn thoát chết chìm, đặt chân chạy lên bãi biển và tiếp tục chứng kiến đồng đội ngã gục chung quanh mình. Rob chạy bên cạnh Hal bị trúng đạn vào ngực, té sấp rồi lăn ngửa ra, gọi mẹ mình được đôi tiếng thì nằm bất động, trái táo xanh trong túi áo lăn ra nằm bên áo trận ướt đẫm máu.

Rob là đứa con duy nhất của ông bà Dittmar!

Trong những đồng đội can đảm, có Virgil Mounts, người lính cứu thương trẻ tuổi; Virgil còn rất trẻ, dưới tuổi thành niên, đã khai tuổi giả để được đi lính. Là thiếu niên 15 tuổi, thay vì an nhàn đi học, Virgil thật gan dạ xông xáo, bất chấp cái chết cho chính mình, để cứu giúp thương binh. Ngoài hoả lực của các khẩu MG 42, ít nhất, mỗi phút có một trái đạn 100 ly pháo tới, nổ tung ra hàng ngàn mảnh vụn sắc bén, bay với tốc độ đến 3 ngàn km trong 1 giây, thừa sức mạnh để xuyên thủng hai cơ thể con người cùng lúc. Một mảnh pháo đã phang trúng giữa miệng Virgil, người lính cứu thương can trường tử trận thật thê thảm.

Hal bị thương nhiều lần. Lần đầu, Hal thoát chết như có phép lạ: đầu đạn xuyên qua lớp gỗ của cây M1 đang ôm chéo trước ngực, rồi kẹt lại trong băng đạn. Sau đó, miểng pháo phang trúng mặt Hal, chém rớt một phần gò má bên trái cùng một nửa hàm trên; răng và nướu, rơi nằm trên lưỡi mình. Nhờ các ống thuốc Morphine mang theo trong túi cứu thương cá nhân, đã giúp giảm đau đớn, cho Hal kéo dài sức sống để tiếp tục vượt qua bãi biển, nhập vào toán lính của lực lượng đặc biệt triệt hạ các chốt đóng quân của Đức. Vào giờ thứ 32 trên Normandy, Hal bị trúng đạn ở gót chân, không còn khả năng di chuyển, bị kiệt lực, gục xuống bên xác binh lính tử trận. Sau đó, Hal may mắn được lính quân y tìm thấy và đưa xuống tàu bệnh viện cứu sống và lần lượt trải qua 23 cuộc giải phẫu…

 

Tuổi trẻ quỳ xuống nhận Danh Dự và Trách Nhiệm.

Tuổi trẻ đứng dậy, hiên ngang bảo vệ Tổ Quốc.

Thế Chiến Thứ Nhất!

 

Thế Chiến Thứ Hai!

 

Chiến tranh nào cũng bạo tàn!

Không ai muốn chứng kiến bi thương, tang tóc!

 

We Remember!

 

Tiếng Trumpet chấm dứt The Last Post với dấu nhạc cao, âm vang kéo dài đưa dòng nước mắt chan hòa vào Hai Phút Mặc Niệm. Lòng người hướng về những chiến sĩ đã nằm xuống; họ là những anh hùng lưu tên tuổi cùng những anh hùng vô danh đã hy sinh cho An bình, Tự Do của nhân loại.

Như hình ảnh của Toán Quốc Quân Kỳ, Quân Kỳ luôn luôn kề cận bên Quốc Kỳ: Quốc gia không thể tồn tại nếu không có quân đội!

Ngày hôm nay, dù trong thời bình, Toán Quốc Quân Kỳ không chỉ là nghi thức của quân đội, mà còn trang trọng hiện diện trong các sinh hoạt  dân sự, như Lễ Chào Cờ khởi đầu cho các cuộc tranh giải chung kết thể thao.

 

Tiếng đạn đại bác từ căn cứ Pháo binh 15th Field Artillery Regiment, tại Portside Park, Vancouver, vọng về rời rạc, nghe thảng thốt, tan vỡ trong ký ức.

Trong cuộc sống đầy đủ, người ta dễ quên đi nỗi khó khăn thiếu thốn mà mình đã phải trải qua; hết nhớ hay không muốn nhớ đến niềm hân hoan khi được hưởng nhận những gì đã từng mong ước. Tự do, quyền làm người, tưởng như chỉ là những gì tầm thường, sẵn có quanh mình; đến khi dân tộc bị cướp đoạt những quyền căn bản làm người, người ta mới khao khát và nhận ra rằng: cái giá của Tự Do quả là vô giá!

Hơn 70 năm qua, dân tộc Việt đã phải trả một cái giá quá đắt, bằng những núi xương, sông máu, cho hai chữ độc lập và tự do trên đầu môi chót lưỡi của cộng sản. Hàng ngàn người khác vẫn đang bị tù đày chỉ vì muốn đòi lại nền độc lập và tự do mà đảng đã cướp đoạt của dân tộc.

Trên nước Pháp, đang lúc bị quân bạo ngược Nazi cưỡng chiếm, trong giáo đường có hiện diện của quân lính Nazi, linh mục Louis Rolland vẫn bình thản cất cao lời giảng cho các giáo dân rằng: 

"Au cœur des ténèbres, au plus profond de la nuit, nous ne devons jamais perdre espoir. Gardons notre foi intacte, ferme! Pour chacun de nous, la délivrance arrive."

 

Thật vậy, nước Pháp đã được giải thoát khỏi gông cùm của Nazi Đức !

Đức tin, niềm hy vọng đã giúp cho những kháng chiến quân Pháp không sợ hãi, góp sinh mạng với lực lượng Đồng Minh để chiến đấu giành lại Tự do cho nước Pháp.

 

Vâng!

Giữa bóng đêm, trong tăm tối, chúng ta không bao giờ để mất niềm hy vọng.

Hãy giữ lòng tin trọn vẹn, vững bền!  Với mỗi người chúng ta, sự giải thoát sẽ đến!

 

Remembrance Day 2017

Bùi Đức Tính