Võ Kỳ Điền

Út Trung ở trần đen thui, từ đằng xa chạy lại, hai tay khệ nệ ôm lấy một vật gì lớn cỡ trái mít dáng hối hả lật đật. Tới chừng lại gần mới biết là một cục nước đá bám đầy cát bụi, trời nóng nước tan nhểu ròng ròng xuống mặt cát trắng khô lốm đốm hình sao. Tôi thấy cục nước đá, tự nhiên mồ hôi tươm ra:

-- Bộ chú Út mò được ở đằng ghe quốc doanh đó hả. Ở đảo nầy mà có được nước đá lạnh thì đã thiệt... Lâu quá không được uống lạnh thèm hết sức!

Trung vừa nói vừa hít hà hai bàn tay đỏ ửng vì cầm cục đá quá lâu:

-- Một hầm chứa đầy nhóc ở dưới khoang. Người ta đương giành ào ào trên đó. Em lẹ tay lấy được cục nầy... Phải kiếm một cục đá để đập nhỏ ra...

Thiệt đúng với câu "Sống là tranh đấu." Từ ngày xuống ghe tới giờ, tôi thấy muốn có cái gì cũng phải giành giựt. Lẹ tay thì còn, chậm tay thì hết... trơn. Anh bạn trẻ nầy lẹ tay lẹ chưn thiệt tình. Mà phải vậy mới tranh nổi với tụi thằng Cẩu Chải, thằng A Son, A Tài... Bi lần đầu tiên uống đá lạnh trố mắt nhìn sững, đẩy cái lon ra. Tôi cố ép. Thằng nhỏ uống thử thấy được, bèn đòi uống riết. Út Trung cầm lon đá lạnh vừa uống vừa lắc lanh canh. Tôi uống một hơi nghe mát lạnh từ kẽ răng đến chưn tóc. Đã thiệt tình!

Hồi sáng nầy một chiếc tàu quốc doanh đến đảo. Nó to như chiếc tàu sắt và mới hơn chiếc BL 1648 của tôi, từ ngoài khơi bao giờ, không ai thấy (có lẽ vì lớn quá người ta chỉ chú ý các ghe vượt biên nhỏ! Cái gì nhỏ thì mới đáng thương?) lừng lững tiến thẳng vào bờ, hiên ngang đậu cặp cầu tàu. Nó uy nghi, đường bệ nên cả đám đông đứng ngây người ra nhìn quên mất việc vỗ tay reo hò mời đón như lệ thường. Hai bên thành được vẽ sơn đỏ đậm nét số ghe Quốc Doanh Kiên Giang 069. Vững chắc, đẹp đẽ, nó đậu sừng sững bên bờ đảo Dừa. Tăn Ku cùng đám bộ hạ lên ghe kiểm tra. Trên tàu còn nguyên vẹn hai giàn lưới cá loại lớn nhứt với đủ máy móc cần trục và các hầm tôm, hầm cá. Chiếc nầy vượt biên trong khi đi lưới nên không đem theo gia đình và hành khách. Từ tài công đến thủy thủ chỉ vỏn vẹn có sáu người. Tôi nhìn cái tàu mà ngẩn ngơ. Nếu so với chiếc BL 1648 thì nó có thể chứa ít nhứt là năm sáu trăm người...

Út Trung sau một hồi uống lạnh tỉnh táo bèn nói:

-- Thằng Tăn Ku kỳ này no đủ. Nó lấy nguyên một hầm tôm lớn. Nó bắt mấy người đứng coi ở gần phải khiêng về đồn.

Tôi tiếp:

-- Hầm tôm đó ăn thua gì. Nó sẽ bán hai giàn lưới nè, gỡ máy ra bán luôn, bán dầu diesel chạy máy, bán phụ tùng dụng cụ, cái gì bán được gỡ ra bán hết cho các ngư phủ xung quanh đảo, xong rồi đục bỏ vỏ tàu để cho chìm... Như vậy kể như chìm xuồng. Sáu người trên tàu đem nhập chung với đám tụi mình. Ai biết? Tha hồ về Kuala Trengganu du dương với người đẹp!

Út Trung tiếp:

-- Hồi nãy có nghe nó nói còn mấy hầm cá đem phát cho mình. Thế nào chiều nay mình cũng có cá ăn. Nước đá lấy hết rồi, không cho cá tụi mình, nó ươn sình lên hết sao?

-- Có nước đá uống rồi lại có cá tươi ăn, sao mà sướng quá vậy chú Út? Chắc tụi mình sắp lên hương rồi...

-- Cũng chưa sướng lắm. Em mới nghe người ta nói một tin sướng hơn...

-- Tin gì mà sướng dữ vậy?

-- Bà Chiều Tím muốn cạnh tranh với mấy thằng lính Mã, hạ giá hàng hóa xuống phân nửa. Bây giờ anh muốn đổi cái gì cũng được gấp đôi lúc trước... Mà không có vàng bây giờ thì có thể thiếu chịu, mai mốt chừng nào có thì trả!

-- Trời, bả chịu chơi ngon lành. Nhưng hiện tại thì đâu còn thiếu hụt như trước nữa. Hồng Thập Tự tiếp tế lần thứ hai rồi. Thiếu chịu thì khoái thiệt đó nhưng trước hay sau gì cũng phải trả cho bả chớ... hổng lẽ giựt...

Vừa nói tôi vừa nghĩ ngợi. Tự dưng bà Chiều Tím lại hạ giá hàng gấp đôi, sao kỳ lạ vậy? Chắc là lời nhiều quá rồi, đổi rộng rãi hơn để lấy tiếng chăng? Vô lý, trên đời nầy có ai cho rằng mình đã giàu quá, không cần tiền nữa! Còn hạ giá để cạnh tranh thì càng vô lý. Tụi lính Mã đi qua đất liền mua bán trực tiếp bên đó, còn bà ta phải nhờ Tăn Ku mua dùm, làm sao được giá rẻ hơn. Thiệt là nhức cái đầu nghĩ không ra. Thiệt tình khi nào có chuyện gì liên quan tới người đẹp là đầu óc tôi rối mù, không tính chuyện gì ra chuyện gì được.

Đằng xa thằng khỉ đột Zăm Bri đi lại lều, tay cầm một rổ cá nhỏ. Trong những ngày gần đây, tôi và nó có dịp gặp gỡ, nói chuyện. Cái thằng coi cục mịch xấu xí nhưng thiệt thà chất phác. Tôi thường hỏi nó về đời sống, phong tục, tập quán người dân Mã. Nó cũng thường hỏi tôi về chuyện Việt Nam. Tôi khoái nó ở chỗ khi nói tới Cộng sản, nó thù ghét dễ sợ. Hình như ở Mã Lai không còn bóng dáng một người Cộng sản nào. Một phần nhờ chánh phủ quyết tâm tiêu diệt, một phần nhờ đa số dân chúng theo Hồi giáo. Tôi khoái đạo Hồi ở chỗ đó. Thử tưởng tượng trên trái đất nầy vào lúc chủ nghĩa Cộng sản hưng thịnh, các nước với tài nguyên dầu lửa phong phú Trung Đông cùng xứ Mã Lai, xứ Indonésia... mấy trăm triệu dân đó sẽ ngả theo Cộng sản tức thì nếu họ không theo Hồi giáo... Và lúc đó cục diện thế giới sẽ ra sao?

Thằng Zăm Bri đưa cho tôi rổ cá, những con cá nhỏ cỡ hai ngón tay, mặt buồn buồn:

-- Báo cho mầy một tin vui, ngày mai sẽ có ghe chở tụi mầy qua đảo Bidong.

Út Trung thoáng nghe, khựng lại. Tôi như nín thở:

-- Thiệt không Zăm Bri, bộ ngày mai tụi tao được đưa qua Bidong hả. Mầy làm sao biết được?

Nó quơ quơ cây gậy:

-- Tụi tao đã chuẩn bị ghe xong rồi. Có tất cả là ba chiếc để chở. Ngày mai sẽ có người đến để đưa tụi bây đi...

Tôi bắt tay nó thật chặt, cảm động mừng rỡ:

-- Tao cám ơn mầy nhiều lắm. Tối nay mầy có rảnh xuống đây chơi với tụi tao. Mai tao đi rồi, qua bên đó không biết bao giờ gặp lại nhau.

Tôi xúc động thiệt tình. Nó đứng lặng im. Trời trưa đứng nắng. Tôi không cảm thấy nóng chút xíu nào. Tôi đã ở đảo Dừa nầy đúng một tháng tròn. Tôi với nó quen nhau thường vậy thôi, chớ không thân thiết gì nhưng không biết tại sao lúc sắp chia tay như trưa nay, tôi bị xúc động mạnh. Hay là tại nó đem cho riêng tôi một rổ cá? Có lẽ nào?

Nó đi về đồn, cái dáng lặc lè chưn thấp chưn cao. Tôi mang một tâm trạng nửa buồn nửa vui hỗn độn. Út Trung nắm lấy hai vai tôi:

-- Vậy là anh em mình ngày mai qua Bidong rồi. Khoái quá!

Trung vừa nói vừa reo vui, bỗng nhiên nó bật kêu lên:

-- À, à, em hiểu ra rồi, tại sao bà Chiều Tím hạ giá hàng hóa, bán đổ bán tháo, gạo đường sữa chất cả lều không kêu người bán rẻ cho hết cũng phải đem cho, hổng lẽ hai vợ chồng khom lưng ra vác hết qua Bidong để làm gì bây giờ?

Út Trung thiệt là thông minh, có bao nhiêu đó mà tôi nghĩ không ra. Bà Chiều Tím đáng thương của tôi ơi! Ở đời có nhiều chuyện xảy ra mình không đoán trước được. Nếu biết được trước thì giàu sang mấy hồi. Đống hàng hóa đó bây giờ phải làm sao? Thôi, cái gì của Tăn Ku phải trả lại cho Tăn Ku!

Tôi ngửa cổ uống một hơi dài cạn lon đá lạnh, tìm chỗ cất cái lon xong rồi đứng tần ngần nhìn cái lều nhỏ xíu, lá cọ đã đổi sang màu vàng khô, rồi nhìn sang cái bếp, ba cục đá chụm đầu nhau đen thui màu khói than, trong đó còn một vài tàu dừa cháy dang dở... một tháng trời sống thiếu trước hụt sau nhưng rất vui vì còn có vợ con, anh em, bạn bè... và một niềm hy vọng ở ngày mai.

Trời vừa sụp tối, tôi và Duyên đã pha xong một bình trà thiệt lớn. Gói trà được thằng võ sĩ rụng răng Johny cho nhân lúc đổi hàng dùm Tuyết-Tiến. Thứ nầy khi pha phảng phất mùi trái vải lúc uống thêm đường cát trắng thơm ngon, khác hẳn các loại trà tàu. Anh chị Thuần đem qua một dĩa mứt dừa lớn. Những lát dừa được xắt mỏng ướp đường trắng bong khéo léo ngon lành. Anh chị Tư Trần Hưng Đạo có một gói kẹo đủ màu, chị Thùy Dương, Tiến, Chiêu, Dân "gì đó," Sơn, Út Trung đến với niềm vui. Có cả thằng Zăm Bri và thằng "ti đu" đến chơi từ giã. Như vậy là cả trại yên tâm dọn dẹp chuẩn bị cho đến khuya để mai lên đường, khỏi sợ bị bắt buộc "ti đu, ti đu" như mọi bận. Cái đệm ngồi được trải phẳng phiu trên bãi cát trống trước mặt lều, cây đèn dầu để ở giữa. Trời tối đen như mực, đêm nhiều gió nên ánh sáng lắt lay chỉ chực tắt. Mặt người khi mờ khi tỏ. Vì khá đông nên người người ngồi sát nhau ấm áp, thân tình, lòng đầy phấn khởi vì biết chắc ngày mai sẽ được qua Bidong. Pulau Bidong, cái tên sao mà hấp dẫn quá sức! Một tháng chờ đợi ở đảo nầy, kẹt cứng mất cả liên lạc với bên ngoài. Ở đây tuy vui nhưng hiu quạnh quá. Thời gian một tháng là quá lâu, bỏ phí thời giờ vô ích.

Thằng Zăm Bri không nói không rằng, cầm ăn hết miếng mứt dừa nầy đến miếng khác.

Tôi hỏi:

-- Ở Mã Lai có loại mứt ngọt như vầy không? Làm bằng dừa xắt mỏng ra đó...

Nó lắc đầu:

-- Không có đâu, tao ăn thấy ngon và lạ...

-- Vậy mai mốt mầy không có việc gì làm, hái dừa rồi xắt mỏng ra ngào với đường cát trắng làm thành mứt ngọt như vầy nè, ăn để nhớ tới tụi tao...

Nó cảm động:

-- Ừ ừ tao sẽ làm y như vầy... Mấy ngày có tụi bây ở đây vui quá...

Chị Thuần cười cười ngó nó nói:

-- Vui thiệt không đó, tao thấy mầy tối ngày cầm gậy đi kiếm người ta để phạt hoài.

Nó cười, ăn tiếp mứt dừa và chưa trả lời câu nói.

Chị Thuần tiếp tục:

-- Còn anh "ti đu" nầy nè, mới có bảy tám giờ bắt người ta ti đu. Ti đu cái gì được, chưa ai buồn ngủ hết...

Tư Trần Hưng Đạo xen vô:

-- Ti đu sớm quá cả tháng trời như vầy thiệt nguy hiểm, cũng may ở đảo nầy chưa thấy bà nào mang bầu... cũng nhờ trời thương!

Cả đám cười ngã nghiêng. Thằng "ti đu" ngơ ngác, không biết gì. Chị Thuần phải dịch lại cho nó nghe. Hai thằng cũng bắt cười theo.

Chị Tư vỗ vai anh Tư:

-- Có mấy cô, mấy cậu còn trẻ nè, ăn nói đàng hoàng một chút nghe. Già cả ưa nói bậy nói bạ...

Bỗng thằng Zăm Bri nói:

-- Tụi bây ở đây coi vậy chớ sướng hơn qua bên Bidong, ở bên đó chật hẹp dơ dáy thiếu thốn đủ thứ hết...

Nghe nói ai nấy chới với, ngạc nhiên đảo Dừa nầy mà sướng hơn Bidong sao?

-- Ở Bidong không có nước uống, phải tiếp tế bằng tàu, mỗi ngày được mấy lít, không có cầu vệ sinh, phải tự túc dựng lều để ở mà cũng không còn chỗ. Cái đảo nhỏ xíu thua Kapas nầy xa lắm mà chứa tới ba bốn chục ngàn người, nhiều người phải leo tuốt lên sườn núi cheo leo dựng lều... Mỗi lần đưa người qua bên đó tao ngộp thở chịu không nổi, xong việc là về liền...

Nó nói tới đâu tôi ngẩn ngơ tới đó. Bidong... Bidong, cái đảo mà tôi ước mơ, chờ đợi để được qua sao mà tệ quá vậy. Hoàn toàn không có gì hết phải tự túc tự cường. Trời, rồi phải làm sao đây.

Nước thủy triều buổi tối đã dâng cao ngập gần tới gốc dừa, bãi cát hẹp lại. Tiếng sóng ầm ầm mỗi lúc một lớn hơn. Đêm khuya hiu quạnh mịt mùng. Biển cả muôn đời sâu thẳm huyền bí mông lung. Tôi nhìn lặng lẽ gốc dừa mờ mờ nghiêng trên bãi cát, nhớ lại đêm nào mới đến nơi đây. Cả đám lội bì bõm vào bờ mình mẫy ướt mem, tụi lính Mã đốt lên một đống lửa lớn ở chỗ nầy, tất cả bu quanh như trong hang động thời tiền sử... chỉ mới có một tháng mà thấy như quá lâu. Rồi miên man nghĩ về quê nhà không biết ở bên đó bây giờ có còn ai nhớ tới mình không? Cha mẹ ra sao, bạn bè ra sao, tỉnh Bình Dương ra sao...?

Chiêu khêu ngọn đèn cho sáng rồi nói:

-- Bên đó thì cực lắm nhưng có Cao Ủy Liên Hiệp Quốc, có điều tra phỏng vấn để cho đi đệ tam quốc gia. Mình phải rán chịu cực trước để được sướng sau, lo gì. Người ta chịu được thì mình cũng chịu được...

Thằng Dân "gì đó" xen vô:

-- Ừa, ừa, anh Chiêu nói phải gì đó. Tới đâu thì tới, bi nhiêu thì bi, em không sợ gì đó.

Buổi tiệc tàn lúc gần nửa đêm. Trong phút chốc bốn bên lặng ngắt như tờ. Tôi nằm trong mùng nhìn xuyên qua cửa thấy bầu trời đen nhung nhấp nháy những vì sao sáng lờ mờ ở thiệt xa, thiệt xa. Phải tới bao giờ mới có trăng đây?

Buổi sáng hôm đi trời lại mưa. Trận mưa đầu tiên ở đảo Dừa, trời âm u, mưa những hột nhỏ gió thổi xiên ngang rào rào ai cũng bị ướt mem vì lều dột. Từ trên mái lều những giọt nước thi nhau nhểu xuống. Tôi và Duyên vội lấy áo mưa che trên đầu, ngồi nhìn ra biển chờ tạnh. Mặt biển sóng dâng cao, mờ ảo những sợi mưa bay ngang bay dọc. Cả một không gian đầy nước một màu xám đục. Mưa vừa dứt hột, tôi vội chạy ra nhúm lại bếp để nấu ăn sáng. Trời, một bãi tan hoang. Bếp núc lạnh tanh. Củi khô ướt nhẹp. Tôi lần mò gom lại rán mà nhúm. Củi ướt khói bốc mịt mù. Tắt rồi cháy, cháy rồi tắt. Khổ sở trăm bề...

Ăn sáng xong thì hai vợ chồng lo thu dọn đồ đạc vào xách tay, ba lô. Đồ đạc lình kình làng càng dây nhợ tứ tung. Quần áo giặt chiều qua chưa kịp khô thì bị mưa ướt sũng, thôi kệ nó dồn hết vào túi, qua tới Bidong rồi tính. Khổ nhứt là hai cái gàu mên vì dùng để nấu nướng cả tháng trời nay nên khói đóng đen thui. Phải chùi cho sạch mới để vào xách tay được. Tôi bốc một nhúm cát kỳ cọ cho trắng ra. Ở trên bãi thiên hạ cũng đang ngồi chùi nồi, chùi xoong đen nghẹt. Trời còn xám màu chì, không một tia nắng nhỏ. Những thân dừa đứng ủ rũ trong không khí sũng ướt. Mặt nước biển không trong xanh như mọi bận mà trở nên đục ngầu. Trời mùa xuân mà cứ tưởng mùa thu. Lòng tôi buồn rười rượi. Một tháng trời vui buồn ở đảo Dừa nầy, làm sao mà quên cho được, những hình ảnh thân yêu vây quanh, bám chặt trong đầu. Cái nồi đen quá chùi hoài vẫn không trắng, đang loay hoay thì có lịnh tập họp để khởi hành vì thuyền Mã Lai đã đến. Đó là ba chiếc thuyền nhỏ bề dài độ mười bốn, mười lăm mét, sơn xanh còn mới tinh, đậu song song nhau ở mé nước gần đồn lính.

Toàn trại nhốn nháo. Mọi người hối hả dọn dẹp rộn ràng. Trong phút chốc cả khu dựng lều được thu xếp chỉ còn trơ lại những khung sườn bằng cây và mái lá. Những tấm màn, nệm, dây chạc đều được thu hồi tận tình. Qua bên Bidong còn phải cần dùng lại nữa... Không còn lều của người Việt và cũng không còn lều người Hoa. Cả hai biến mất hết chỉ còn lại rừng dừa xanh mướt ngút ngàn.

Vì thuyền Mã nhỏ nên chỉ chở được đợt đầu tiên ba trăm người, những người còn lại sẽ đi ngày hôm sau. Cả đám ùa ra bờ biển, hướng về phía ghe đậu. Từ khu dựng lều tới chỗ đậu ghe nhìn thì thấy gần nhưng có đi bộ trên cát nóng thì mới biết nó xa trên nửa cây số. Trời lúc đó lại nắng gắt nên chuyện đi dép, khiêng nặng trên cát nóng không phải là dễ dàng. Bé Bi lúc đó đi chưa vững. Duyên một tay ẵm Bi một tay xách giỏ ny lông xanh đựng nồi niêu, vật dụng. Tôi phải xách hai xách tay và khiêng một cái sac marin bự muốn ẹo xương sống. Toàn là quần áo, mùng mền còn ướt nên nặng chình chịch. Nắng đổ lửa trên đầu, cát nóng như rang dưới chưn. Đôi dép lại đứt lên đứt xuống. Mỗi lần mệt quá, tôi dừng lại để thở, nhìn ra phía sau một đoàn người lôi thôi lếch thếch kéo nhau đi một đoàn dài. Mẹ con Bi mặt mày đỏ ửng, lấm tấm mồ hôi, độ chừng đi hết muốn nổi. Hồi mới xuống đảo đồ đạc cũng đâu có bao nhiêu, cũng không biết ở đâu mà bây giờ nhiều quá! Đúng rồi, thêm một số gạo đường sữa của Hồng Thập Tự Mã Lai cho...

Cạnh bên là gia đình anh Tư. Nhờ tới năm con nên mỗi đứa chia nhau khiêng vác vừa đi vừa kêu nhau ơi ới, thằng Dân "gì đó" cũng hai cái xách tay đầy nhóc... Chỉ có Chiêu là lãnh đủ. Ngoài đồ đạc của nó đựng trong xách tay khi đi, bây giờ nó lại có thêm nguyên một cái thùng cây lớn chất đủ thứ ở trại Marang cho. Đâu có ai giúp được vì người nào cũng khiêng vác đầy đầu, đầy tay. Cũng may nó rất mạnh vừa đi vừa nghỉ không biết bao nhiêu bận... Cuối cùng rồi cũng đến chỗ ghe đậu, mọi người để hành lý xuống bờ cát thở phào nhẹ nhõm. Tôi nhờ tới trước nên đi lần xuống nước để leo lên ghe.

Nước sâu cỡ ngang lưng quần, rán sức leo lên. Rải rác cũng có vài thanh niên đã ở trên boong. Chúng tôi đứng dọc theo be để chuyển người và hành lý vô trong. Tất cả mọi người đều phải lội lỏm bỏm xuống nước để được kéo lên. Cũng phải cả giờ đồng hồ, mới đầy hết được cả ba ghe. Tất cả đều ướt mem, nhờ trời nắng gắt nên chỉ trong chốc lát quần áo đều khô...

Ghe nổ máy dòn dã, từ từ tách bến. Bây giờ khoảng hai giờ trưa. Trời thật xanh và biển cũng thật xanh. Tôi đứng trên ghe nhìn lại khu dựng lều lần cuối. Nó đã quá xa không còn thấy gì nữa hết, rải rác những xác ghe hư mục, những cây dừa mọc dầy đặc như rừng, bãi cát vòng cung trắng xóa. Thôi, hết rồi, trong đời tôi chắc chỉ được sống và chứng kiến khung cảnh nên thơ đầy kỷ niệm của Pulau Kapas một lần... rồi thôi! Ghe đi ngang qua cầu tàu. Nó bằng sắt cao sừng sững, lớn quá. Mãi đến bây giờ tôi mới được thấy rõ cái cầu tàu sơn màu xanh nước biển, chiếc BL 1648 đã cặp vào đậu để qua đêm, nào ngờ bị Tăn Ku bắt ép lên đảo. Nơi đây chị Thuần ra nói chuyện với bọn lính, bị đánh té xuống biển... cũng nơi đây tôi mặc quần cụt nhảy xuống nước để lội vô bờ. Mới có một tháng mà như quá lâu...

Qua khỏi cầu tàu là nhà của chúa đảo, tên già Adidas, cất toàn bằng cây rất xinh xắn. Hoa mọc đầy trên các lối đi. Còn gì nữa... Còn gì nữa... Tôi rán hết sức để nhìn. Toàn thể Pulau Kapas chỉ còn thấy các rặng núi xanh xanh hình vòng cung mờ mờ ở xa... rồi thật xa, mất hút. Bây giờ chỉ còn lại cái đuôi nước sủi bọt trắng xóa dài ngoằn của chiếc ghe bỏ lại phía sau lái... với cả tấm lòng nhớ thương lưu luyến Kapas của riêng tôi.

Võ Kỳ Điền

(Pulau Bidong Miền Đất Lạ, chương 21)