Nét Đẹp Qua Đường Nét Thi Văn
                                                                                                                                            
Nguyễn Đình Phúc
 
 

Khi vào các nơi phụng tự như Đình, Miếu, Chùa, ngay cả một số Thánh Đường ngày nay… ngoài những pho tượng, hình vẽ thuần túy tôn giáo phổ quát mọi người cũng có dịp thấy những hình tượng, hoa văn, trang trí mang tính chất văn hóa đặc thù trên các kiến trúc, cửa ra vào, bàn thờ, hoành phi, câu đối… Bài viết chỉ muốn giới thiệu khái quát về ý nghĩa một số hoa văn trang trí thường thấy với các bạn đọc trẻ để cùng nhau tìm hiểu những nét đẹp văn hóa dân tộc.

 

Hoa văn thể hiện trên hình tượng nhân vật.

 

Phúc Lộc Thọ tam tiên: rất phổ thông qua tượng, tranh vẽ, thiệp chúc mừng… Ông Thọ qua hình cụ già, trán sói, một tay chống gậy, tay kia cầm trái đào. Ông Lộc đội mũ cánh chuồn, có con nai (lộc) đứng kế. Ông Phúc bế trẻ nhỏ, có hình con dơi (phức hay phúc) bay quanh. Có người giải thích tam tiên Phúc Lộc Thọ biểu tượng ba nhân vật: Đông Phương Sóc (Thọ) trường thọ vì vui tánh, được ăn đào tiên của Tây Vương Mẫu, Đậu Vũ Quân (Lộc) vị quan thanh liêm và Quách Tử Nghi (Phúc) suốt đời toàn được điều tốt lành. Nhiều khi đơn giản chỉ cần một hình tượng Ông Thọ nhưng có dơi bay (phúc), nai (lộc) tượng trưng đủ Tam Đa.

 

Bát tiên: qua sách Đông Du Bát Tiên, tám vị cưỡi rồng hay ngồi thuyền đi trị các tà quái ở phương Đông. Mỗi vị là thần bảo hộ một ngành nghề. Lý Thiết Quải, người hành khất thọt chân, chống nạng, mang chiếc bầu, có làn khói thoát ra. Hán Chung Li, cầm quạt đôi khi trái đào. Trương Qua Lão, cầm một nhạc khí. Tào Quốc Cựu tay cầm sênh (sinh tiền), nhạc cụ, được tôn thần bản mệnh các nghệ sĩ. Lữ Đồng Tân cầm phất trần, vai mang kiếm thần  nghề y dược. Hà Tiên Cô cầm ngó sen, thần bảo hộ gia đình. Lam Thái Hòa xách giỏ hoa, thần nghề trồng hoa cảnh. Tiên đồng Hàn Tương Tử, thổi sáo, thần các nhạc công.

Ông Lão giữa bầy trẻ cầm chiếc như ý (1) , hàm ấn và đọc sách: ngụ ý chúc “tam đa”. Lấy từ tích vua Nghiêu đi tuần thú đất Hoa. Quan địa phương phụng chúc: “đa thọ, đa nam, đa phú”. Vua chối từ cho rằng “đa thọ tất đa nhục, đa nam tất đa ưu, đa phú tất đa oán” (sống lâu nhục nhiều, đông con trai lắm lo, quá giầu chuốc thêm oán).

Hình bé trai nâng cá chép khỏi đầu: biểu trưng “niên niên hữu dư” vì cá (ngư, gần âm dư là thừa). Cũng từ ý đó, tiệc cưới có món cá mang nghĩa chúc dư (ngư) thừa hạnh phúc. Hình bé trai cùng xâu cá, xâu tiền: ý chúc “đinh tài lưỡng vượng” (“một của một con”). Hình năm đứa trẻ tranh nhau chiếc mão lấy từ điển tích họ Đậu đời Tống sinh năm trai tài giỏi, với lời chúc “ngũ tử đoạt khôi nguyên”. 

 

Hoa văn biểu tượng qua cầm thú.

 

 Tứ Linh: Long (rồng), Ly (kỳ lân), Quy (rùa), Phụng (chim phượng). Tuy là linh vật huyền thoại nhưng nhiều người tin rồng kết hợp cả 36 bộ phận tiêu biểu của các vật tổ các sắc dân cổ thời. Theo nguyên lý âm dương, rồng thuộc dương, biểu trưng cho động, phát triển, thịnh vương (2) .

Lân: con đực là kỳ, con cái là lân nên gọi chung là kỳ lân. Kỳ lân đầu rồng, mình móng ngựa, chân hươu… Chỉ xuất hiện vào thời thái bình thịnh trị. Theo tục truyền: lân ra đời vào đời Hoàng Đế Hiên Viên và lúc đức Khổng Tử (3) sắp đản sinh. Cuối đời thánh Khổng xuất hiện con lân què điềm xấu chỉ đạo Khổng suy. Lúc đó Khổng Tử liền ngưng viết kinh Xuân Thu, nên từ tích đó gọi kinh Xuân Thu là Lân kinh.

Quy (rùa) theo tích Văn Vương nhà Chu thấy rùa nổi trên sông Lạc, từ đó vẽ ra Bát Quái biến hóa khôn lường. Cuối triều Nguyễn, vua Bảo Đại và nước Đại Hàn cũng lấy ý từ bát quái dùng làm quốc kỳ. Nhiều người vẫn treo Bát Quái trước nhà, cơ sở kinh doanh

.

 Phụng hay Phượng biểu tượng điềm lành: hình “lưỡng long triều dương”. “lưỡng long tranh châu” hay “long phúng thủy” (rồng phun nước) hay “long vân” (rồng mây) đều chúc mưa thuận gió hòa. Loan phụng hòa minh (trống mái cùng hót) chỉ đôi vợ chồng hòa hợp, hạnh phúc.

 

Qùi là linh thú, chỉ có một chân. Thường dùng trấn yểm yêu ma tại các đền miếu, bằng cách chạm hình chân qùi vào các bàn thờ, hương án hay tại tư gia như chân bàn ghế, sập giường nên gọi là chạm “chân qùi”.           

 

Hổ được coi là chúa sơn lâm, sức mạnh, thần bí. Cửa các đình, miếu hình hổ nhiều khi cả rồng “long hổ hội” được đắp trên bức bình phong. “Ngũ hổ” là hình bùa trấn ngũ hành.

 

Hạc đứng trên mai rùa: rất phổ biến trong các đình miếu, tượng trưng bền vững, trường thọ “quy hạc tề thọ”. Rất nhiều tranh hay hoa văn ngựa với bốn chữ “mã đáo thành công” hay “bách điểu, bách ngư” hay “bách phúc đồ, bách thọ đồ” (trăm chữ phúc, thọ)… Những chữ Phúc, Thọ, Hỉ… thường được thể thức hóa qua nhiều hình dáng tròn, chữ nhật làm hoa văn trên những mỹ thuật phẩm. 

 

Nhân năm Gà (Ất Dậu 2005) xin viết thêm về hoa văn lấy hình gà. Gà hán tự là kê, đồng âm “cát” (tốt) (cát tường/tốt lành). Gà mang năm đức: văn (mào đỏ như mũ quan chức), vũ (cựa bén nhọn như gươm), dũng (gặp đối thủ chiến đấu dũng mãnh), nhân (có mồi gọi đồng loại đến cùng ăn), tín (gáy đúng thời khắc). Tranh gà gáy (kê minh) biểu tượng sự nổi tiếng, hình gà cồ tượng trưng đại cát. Gà mái và bầy con: sung túc.

 

Nước Pháp dùng gà trống làm biểu tượng, thường đặt hình gà gáy trên nóc nhà với dấu chỉ bốn phương và coi gà trống là vua của đàn gia cầm (roi de la basse-cour).

 

Hoa văn cá nhẩy trên sóng nước dạng “hồi ba” trước “long môn” hay cá hóa rồng (đầu rồng, đuôi cá) đều cùng ý chúc tụng thăng tiến, đậu đạt. Mèo chữ hán là “miêu”, âm “máo” đồng âm “mạo” chỉ ông lão 90. Bướm là hồ điệp đồng âm “điệt” chỉ ông lão 80. Cả hai mèo, bướm tượng trưng đại thọ.

 

Hoa văn thể hiện trên hoa cảnh.

 

     Mai, Lan, Cúc, Trúc: biểu tượng xuân hạ thu đông (4) . Thường đi kèm mai-điểu (mai-chim), liên-áp (sen-vịt), cúc-kê (cúc-gà), trúc-tước (trúc-chim sẻ). Đệ nhất Cộng Hòa dùng cây trúc làm quốc huy, và huy hiệu Tổng Thống với khẩu hiệu “tiết trực tâm hư” (gióng thẳng lòng không) vì cây trúc được xem người quân tử (5) , hoa mai cho cấp hiệu sĩ quan.

 

 

Hoa sen biểu tượng Phật giáo, thấy nhiều trong kiến trúc, hội họa, hoa văn...

 

Trái phật thủ: chúc giầu có vì phật âm “fu” đồng âm “phú” là giầu. Tranh phật thủ, đào, lựu chúc tam đa (giầu, thọ, đông con).

.

Hoa mẫu đơn biểu tượng phú qúy “phú qúy hoa” với ý chúc “mãn đường hồng” giống như lan là  “vương giả chi hoa”. Mẫu đơn thường chạm, vẽ với cá ý chúc “phú qúy hữu dư”, hoặc mẫu đơn với chim trĩ, chim phượng.

 

Trái thị, hoa bách hợp và kim quất:chúc mọi sự đều tốt vì thị đồng âm “sự”(việc), bách hợp và quất đồng âm “cát”.

 

Cành nho, con sóc: hoa văn chạm khắc trên các tủ chè (trà), thường bày phía dưới bàn thờ, phía trong sập gụ chân qùi, trường kỷ hay bộ ngựa.

 

Kèm bài viết, các hình chụp Lăng Quốc Tổ, Chùa Keo, nội cung Thánh Cung Bảo Tòa (nhà thờ Phát Diệm), đều là những công trình điêu khắc, hoa văn, trang trí bằng đường nét văn hóa dân tộc đặc sắc

 

Một ít hoa văn trang trí thường gặp vừa giới thiệu chắc cũng có bạn đọc thắc mắc đâu có gì khác với Trung Hoa, đâu là nét dân tộc? Thật ra, không có nền văn hóa nào hoàn toàn không chịu ảnh hưởng nhiều ít một nền văn hóa khác. Tuy nhiên, khi tìm hiểu sẽ thấy nét cá biệt: chỉ riêng hoa văn về rồng giữa các nhà Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn cũng đã rất khác nhau. Quan niệm cũng không giống: ta cho là chim cú rất xấu, hình bóng của tử thần trong khi tây phương coi là tinh khôn. Nhền nhện mang tin vui “tri thù báo hỉ”, khác tây phương gắn liền ma quái… Ví dụ về cách đặt danh xưng triều đại giữa chúng ta và Bắc triều cũng hoàn toàn khác. Chúng ta lấy họ vị vua khai sáng để đặt tên ví dụ Ngô Quyền lập nhà Ngô, Đinh Bộ Lĩnh nhà Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn đều như vậy. Trái hẳn với Bắc triều: Lưu Bang lập ra triều (đại) Hán, Tào Phi lập triều Ngụy, Tôn Sách lập triều Ngô, Lưu Bị lập triều Thục Hán, họ Tư-Mã lập ra triều Tấn…Cho nên Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo viết:

 

“Nước Đại Việt ta,

Nền văn hiến cũ,

Non nước cõi bờ đã khác,

Bắc Nam phong tục đã riêng.

Cơ đồ gây dựng trải Triệu, Đinh, Lý, Trần

Đế bá tranh hùng cùng Hán, Đường, Nguyên, Tống…”

 

“Phong tục đã khác” phải chăng chứng minh sự đãi lọc cái hay của người để tạo bản sắc riêng của mình: bản sắc của dân tộc, văn hóa Việt Nam qua năm ngàn năm văn hiến vậy.

 

                                                                                          Nguyễn Đình Phúc

 

 

Ghi chú: 

(1) Chiếc Như Ý: Giống chiếc hốt, các quan văn thường cầm khi vào triều (dùng che miệng khi tâu vua, ghi các mệnh lệnh), được làm bằng ngọc, ngà hay gỗ dài khoảng 3, 40 phân cong hình chữ S, một đầu có hình mây, nấm linh chi, biểu tượng sự thành đạt. Các vị sư dùng thì chuôi có chữ “tâm”, trên đó có chữ “để” nhằm ghi nhớ các việc cần làm. Tác dụng nguyên thủy chỉ dùng để gãi lưng.

 

(2) Nghệ nhân tạo chín kiểu rồng tùy loại sản phẩm: trên nắp lư trầm hình kim nghê vì nghê thích khói; tiêu đồ xoắn hình ốc, kín đáo gắn trên cánh cửa; thao thiết, mê ăn uống chạm trên nắp đỉnh; bồ lao thích gầm thét, đắp trên quai chuông; đầu ly đặt trên nóc nhà vì ly thích dòm ngó; nơi trụ cầu đắp nhập hạ vì thích nước; sại nhại đắp trên khâu đao vì hiếu sát; bệ hãn là hổ dữ, vẽ nơi cửa ngục; bị hụy giống như rùa vì thích đội nặng. 

 

(3) Đức Khổng Tử (551- 478 B.C): người nước Lỗ, thân phụ là Thúc Lương Ngột, thân mẫu Nhan Thị. Mẹ Ngài cầu tự trên núi Ni Khâu nên khi sinh đặt tên Khâu, tự Trọng Ni. Có sách viết trán Ngài cao nên đặt Khâu vì khâu là gò. Có thắc mắc: thân phụ là Thúc Lương Ngột, Ngài phải là Thúc Lương Khâu mới đúng, sao lại Khổng Khâu? Đúng ra thân phụ Ngài là Khổng Ngột, tự Thúc Lương, nhưng các sử gia dùng tên tự (Thúc Lương) đặt trước tên chánh (Ngột) không ghi họ Khổng khiến hậu sinh mất công tra cứu mới rõ.

 

(4) Văn Chương Việt Nam có một trường hợp rất đặc biệt là tác giả đã dùng các loài hoa để chỉ thời gian ước hẹn giữa chinh phu với người chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc:

 

“Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió,

Hỏi ngày về ước nẻo đào bông,

Nay đào đã quyến gió đông,

Phù dung lại đã bên sông ơ hờ…”

 

(5) Mạc Đĩnh Chi đi sứ Trung Hoa, vào triều thấy bức thêu cành trúc có mấy con chim sẻ đậu rất sắc sảo, linh hoạt. Mạc Đĩnh Chi tưởng chim thật, chạy tới vồ, triều thần cười ồ chế nhạo. Mạc Đĩnh Chi chữa thẹn bằng cách giựt xé bức thêu. Các quan ngơ ngác, ông nói: trúc tượng trưng bậc quân tử, sẻ là kẻ tiểu nhân, làm sao để tiểu nhân đứng trên quân tử. Điều này trái đạo nên phải xé đi.