Thích Ca Phật Đài



                                                                                                          Nguyễn Đình Phúc
 
 

Lời người viết:  Bài viết xin được coi như nén hương trầm thắp lên tri ân bậc tôn sư của tôi, Cụ Cử Hồ Đắc Thăng, người đã hưng công đại công trình Thích Ca Phật Đài. Rất tiếc vì sự hiểu biết hạn hẹp, thời gian cũng đã qua lâu, không lưu giữ được tài liệu nào, nên không giới thiệu được trọn vẹn những nét đặc biệt của Phật Đài. Kính mong các bậc có cơ duyên hiểu biết hơn vui lòng chỉ giáo. Đa tạ. ( Nguyễn Đình Phúc )

 

     Thị xã Vũng Tàu (Cấp) thuộc miền Đông cách thủ đô Sàigòn 125 cây số, bằng xa lộ Biên Hòa và quốc lộ 15. Du khách khởi hành từ Sàigòn chỉ mất hơn một giờ. Khi vừa vào ranh giới thị xã, tuy còn cách xa chừng mươi cây số đã thấy pho Kim Thân Phật Tổ và ngôi Bảo Tháp trắng toát sừng sững hiện ra trên Núi Lớn. Tới thị xã, rẽ phải về hướng Bến Đình, chạy thêm vài ba cây số quí vị sẽ đến khu Phật Đài. Càng gần, du khách, phật tử hành hương càng thấy công trình vĩ đại. Toàn khu vực, từ chân núi trở lên chiếm khoảng gần mười mẫu tây.Bãi đậu xe rất rộng ở phía trái, sát ngay chân núi. Từ xe bước ra, ai cũng sẽ đứng lặng 5, 10 phút để chiêm ngưỡng cảnh hùng vĩ của thiên nhiên đã được tô điểm bằng một công trình kiến trúc tuyệt tác này.

 

  

Trước hết, từ nhiều bậc rộng rãi bước lên, cổng tam quan đồ sộ cao khoảng mười thước, bốn trụ vuông, mỗi cạnh khoảng hơn một thước, đỡ đà ngang, chính giữa là phiến đá cẩm thạch hình chữ nhật khắc hàng chữ Thích Ca Phật Đài kiểu chân phương. Khác với phần đông chùa, đình... tam quan Thích Ca Phật Đài không có mái cong, lưỡng long chầu mặt nhật thay bằng hình sóng nước đỡ Pháp Luân rất thanh tú, đơn sơ lại không cần nhiều bảo trì. Trên mỗi trụ cổng trang trí bằng một đóa sen búp. Hai bên tam quan, bức tường hoa chạy dọc theo đường lộ, phân cách bãi đău xe phía dưới với phần nội vi Phật Đài trên cao. Tường được trang trí bằng hình hoa sen nở, bàn tay đỡ bánh xe pháp.

                      

Qua tam quan, khách vào khu sân rộng. Kế tiếp, bước lên năm bẩy bậc thềm, lại tới sân rộng hơn nữa. Những dịp đại lễ, nơi đây và khu vực chung quanh đủ chỗ cho cả ngàn phật tử. Từ sân có nhiều lối dẫn lên chùa Thiền Lâm, Phật Đài. Ngôi chùa đã có từ trước do ông Đốc phủ Lê quang Vinh tạo dựng làm nơi tu hành. Chùa nằm dưới những cổ thụ, tàn lá xanh tươi, mát mẻ giúp cho khách vãng cảnh được ngay sự thư thái, an lạc. Đây cũng là nét đặc thù kiến trúc phật giáo Việt Nam: công trình ít vươn cao, mà trải dài, rộng để được thiên nhiên, cổ thụ ấp ủ, hài hòa.

 

Gần bên chùa, một trai thất nhỏ dành riêng cho Đại Đức Narada Maha Thera mỗi khi Ngài lưu lại Thích Ca Phật Đài. Ngay trước trai thất, một con đường nhỏ xây cao, trải cát dài khoảng vài chục thước để Đại Đức kinh hành. Xin được có ít giòng về Đại Đức Narada , vì chính do Ngài mà Phật Đài được dựng lên. Ngài là một cao tăng, đúng hơn là bậc thánh tăng của Phật Giáo Tích Lan và thế giới. Ngài là bổn sư của nữ Thủ Tướng Tích Lan. Không biết từ một cơ duyên nào Ngài rất thương yêu Việt Nam, từ thập niên 40 Đại Đức đã thường đến để hoằng dương Phật Pháp.Vào năm 1960, Đại Đức khoảng ngoài lục tuần, tầm thước, nước da ngăm ngăm. Diện mạo, phong thái Ngài luôn phát ra hạnh từ bi vô lượng. Trong khoảng gần mười năm trời mỗi khi được gần Đại Đức, người viết nhận thấy mọi Phật tử bất kể tuổi tác, giai tầng xã hội, trình độ văn hóa... đều cung kính đảnh lễ Ngài như với hàng chư Phật, chư Bồ Tát. Đáp lại, môi Ngài hé mở tán thán: ‘Lành thay! Lành thay!’ và đều rải tâm từ xuống cho tín chủ. 

 

Thời gian đó, mỗi khi Đại Đức từ Tích Lan qua, Ngài thường trụ và thuyết pháp tại Kỳ Viên Tự, đường Phan Đình Phùng, Sàigòn là trụ sở Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Theravada. Trong một thời pháp, vị tăng thường phiên dịch bỗng nhiên ngã bệnh trước lúc Đại Đức đăng đàn. Phật tử bối rối tìm người thay thế. Một cư sĩ hiện diện, Cụ Hồ Đắc Thăng, được mọi người suy cử vì biết Cụ là một học giả uyên bác, lại có trình độ Phật học thâm sâu. Cụ đã tốt nghiệp đại học Sorbonne (Pháp) về khảo cổ từ lâu. Thấy vậy, Cụ đứng lên từ tạ vì theo Cụ dịch Pháp không giống như làm thông ngôn chỉ cần thông hiểu hai ngôn ngữ mà cần đủ tâm đạo. Ngay lúc đó Đại Đức bằng huệ nhãn đã quay về Cụ dạy ‘đạo hữu có thể dịch pháp cho tôi’. Từ sau đó, tất cả các thời pháp, bài viết hay kinh sách của Đại Đức Narada đều do Cụ Hồ Đắc Thăng dịch hay nhuận sắc. Cũng chính từ cơ duyên này Cụ mới qui y dù đã gần 30 năm thâm cứu Phật học.

 

Sau đó, Đại Đức ngỏ ý muốn Việt Nam có một ngôi Bảo Tháp để Phật tử có nơi chiêm bái Xá Lợi. Vâng theo tôn ý của Đại Đức, hàng ngàn Phật tử phát bồ đề tâm, hoan hỉ cúng dường để xây dựng Bảo Tháp. Chùa Thiền Lâm Vũng Tàu được chọn và Cụ Hồ Đắc Thăng được suy cử thực hiện đại công trình. Việc xây dựng khởi công ngày 20 tháng 7 năm 1961.

                                       

Xin mời quý vị trở lại đường lên chiêm bái ngôi Bảo Tháp. Bằng con đường rộng khoảng hơn hai thước, vòng sau chùa Thiền Lâm, từng bậc một dẫn khách hành hương, vãng cảnh lên cao lần. Gió biển Đông mỗi lúc mạnh hơn vì độ cao của sườn núi. Hai bên đường, hàng tường hoa thấp xây đá, bề mặt khoảng hai gang. Các vị cao tuổi hay sức yếu sau nhiều bậc thang, có thể ngồi tạm nghỉ trước khi tiếp tục. Cứ khoảng năm, mười bậc, tùy thế núi, lại có những khoảng san bằng để khách không phải liên tục trèo cao. Hai bên đường nhiều cành cây che phủ như những tàn lọng thiên nhiên. Đường nhiều khúc lượn quanh những tảng đá lớn giữ nét đẹp thiên nhiên, hài hòa tô điểm bằng bàn tay người nghệ sĩ tài hoa. So với sự rộng lớn của Phật Đài, nhiều người có cảm tưởng như con đường dẫn lên hơi hẹp. Người viết đã được Cụ Hồ Đắc Thăng giải thích:‘Nếu như đường lên nơi triển lãm, du lịch thì có thể hơi hẹp vì du khách thường đi ngang 5, 7 người trò chuyện. Trái lại, đây là nơi tôn nghiêm, Phật tử hành hương không đi như cung cách nhàn du, kéo hàng ngang nhiều người, mà chỉ vừa đi vừa tụng niệm, nên con đường rất thích hợp’.  Khoảng nửa giờ tùy nhanh chậm, khách lên tới khu Bảo Tháp. Đứng ngước lên, Bảo Tháp được xây trên một đài cao. Bước lên bằng những bậc rộng, hai bên có rồng chầu được thể thức hóa theo cành lá uốn. Phần nền quanh bảo tháp rộng khoảng hơn ba trăm thước vuông, lát gạch hoa. Bàn thờ tại chính diện, với bài vị Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, bằng đá mài dựng cố định. Chung quanh Bảo Tháp có tường hoa cao ngang tầm người vừa để trang trí, vừa an toàn vì phía dưới là sườn núi.Tháp có hình nón tám cạnh cao khoảng 20 thước, chu vi phần chân tháp cũng khoảng đó, càng lên càng nhỏ lần. Khi gần tới đỉnh lại phình ra rồi thắt lại, trên cùng là đóa hoa sen. Tháp bằng bê-tông cốt sắt, tô đá mài, không trang trí rườm rà, chỉ chạy những đường hoa văn thanh nhã. Quanh bảo tháp, bốn chiếc đại đỉnh cao khoảng hai thước, tôn trí đất thiêng thỉnh từ bốn nơi động tâm: nơi Đức Phật đản sinh (Lumbini), nơi thành đạo (Uravela), nơi chuyển pháp luân (Isipatana) và nơi Ngài nhập niết bàn (Kusinara).

 

 

Sau khi chiêm bái, quí vị có thể ngoạn cảnh. Đứng tựa sát tường hoa, nhìn xuống, chùa Thiền Lâm thấp thoáng dưới những tàn lá xanh tươi, từng đoàn khách thập phương theo nhau từ chân núi bước lên như đàn kiến nhỏ trước cái bao la của thiên nhiên. Trên cao độ này hoàn toàn yên tĩnh, chỉ nghe tiếng lá xào xạc. Gió mát biển Đông cất đi nỗi mệt mỏi của hành trình từ xa đến cũng như những đoạn đường trèo núi. Cổng tam quan dưới chân núi thu nhỏ lại như trong mô hình kiến trúc. Phóng tầm mắt nhìn ra xa hơn, dưới kia là xóm chài. Hàng trăm con thuyền cắm sào san sát chẳng khác gì những chiếc lá tre. Xa hơn nữa, khu Hải Quân Cát Lở, rồi biển Đông xanh biếc trải dài chân trời. Khách trở xuống khu sân chung rồi theo sự đối xứng bước lên Đài Kim Thân Phật như vừa lên Bảo Tháp.

 

Thật ra khi khởi sự, chỉ có dự án xây Bảo Tháp. Nhưng khi xây xong, chư tăng ni, phật tử mới nhận ra công trình rất quy mô, quí giá. Lúc đó mọi người lại muốn có thêm Phật đài cho công trình viên mãn. Hơn nữa sát bên Bảo Tháp đã có sẵn một pho tượng Phật từ trước nhưng so về tầm vóc cũng như mỹ thuật không cân xứng với ngôi Bảo Tháp vừa hoàn thành. Cụ Hồ Đắc Thăng một lần nữa lại được ủy thác tiếp tục công trình. Lúc đầu Cụ đưa ý kiến muốn hoãn lại vì vừa hoàn thành một công trình lớn tốn kém, đất nước đang chiến tranh, phật tử phần đông còn nhiều thiếu thốn, cũng như lại phải dời pho tượng hiện có đến nơi khác. Nhưng sau khi tất cả phật tử cùng dốc lòng phát tâm bồ đề cúng dường đủ ngân khoản để công trình được viên mãn việc xây Kim Thân Phật lại được xúc tiến. Việc đầu tiên là phải rước pho tượng hiện có ra khỏi vị trí hiện tại để chuẩn bị địa điểm xây cất. Sau khi pho Kim Thân mới được đổ bê-tông đến lưng chừng mới rước pho tượng cũ an vị vào lòng Kim Thân mới. Đây là điều rất nhiều người sau này đến chiêm bái không được rõ trong Kim Thân lại có Kim Thân. Phần đầu của tượng được điêu khắc gia thực hiện ở Sàigòn, chỉ rước về tôn trí lên khi phần thân tượng hoàn tất.

                                         

Đứng tại khu sân trung tâm ngước nhìn lên hai bên thấy Kim Thân Phật và Bảo Tháp kiến trúc đối xứng rất cân bằng về mọi mặt. Khách bước lên Phật đài cũng có cùng chiều cao, lối lên như bên bảo tháp. Kim Thân Phật tọa thiền trên toà sen, phần dưới là một bệ tròn, cao khoảng hơn mười thước. Người có duyên lành được đến chiêm bái mới thấy đủ những điều quí báu không thể tả hết. Đứng phía sau Kim Thân, hoặc đứng chiêm bái từ nhiều phía ở triền núi, ai cũng thấy Kim Thân đã tỏa ra đủ đức lành: Bi Trí Dũng. Từng nếp y đắp trên Kim Thân sống động như chính Đức Như Lai đang thị hiện. Khách vòng về chính diện, cung kính ngước nhìn Kim Thân Phật, với làn môi hé mở cố hữu như đang tỏa vô vàn lượng từ bi, hỉ xả xuống cho chúng sanh. Khi chiều về, ánh thái dương rọi chiếu, tưởng như muôn vàn hào quang rực rỡ cả một vùng trời rộng. Tiếng chuông chùa ngân xa như giục lòng người tìm về bến Giác, trút bỏ phiền não, sân si của kiếp nhân sinh. Người viết, lần đầu tiên được chiêm bái Kim Thân Phật khi công trình vừa hoàn thành, được Cụ Hồ Đắc Thăng giảng thêm về ý nghĩa triết học các pho tượng của các tôn giáo. Tượng, tranh vẽ các Đấng Chí Tôn thường cùng đường nét, diện mạo, phần nhiều đều nhìn thẳng hoặc ngước lên. Trái lại tượng Phật, mỗi dân tộc tạo tác đều mang những nét riêng của dân tộc mình. Cùng tượng Đức Thích Ca, nhưng tượng ở Ấn không giống ở Miến, ở Thái, càng không giống ở Nhật Bản, Trung Hoa hay Việt Nam. Đặc điểm này nói lên tùy căn cơ, tâm thức mỗi dân tộc khi Ánh Đạo Vàng phổ độ đến. Không có những giáo điều, khuôn phép bất di dịch mọi dân tộc, cá nhân phải triệt để tuân theo. Phần nhiều trên pho tượng Phật, đôi mắt Ngài thường khẽ khép trong thế tọa thiền, biểu lộ hùng tâm, tự tại. Hiểu như vậy mới thấy pho Kim Thân Phật tại Thích Ca Phật Đài thể hiện trọn vẹn đường nét đặc thù dân tộc.

 

Kim Thân Phật khi đúc đã dành sẵn một đường nhỏ đủ để dịp lễ khánh thành tôn trí ngọc Xá Lợi rồi gắn lại. Xá Lợi an vị trong một hộp bằng vàng y, do một cư sĩ cũng là nữ họa sĩ dâng cúng. Thí chủ hiện nay đã ngoài chín mươi. Phía sau Kim Thân, một cây Bồ Đề được hạ thổ. Đây là cây Bồ Đề lấy giống từ cây Bồ Đề mẹ, khác với hầu hết đã lấy giống từ các cây con khác.

 

Sang phần hai của bài, người viết muốn được nhắc lại một số sự kiện liên quan đến Phật Đài hầu giúp độc giả chưa có cơ duyên được rõ thêm.Trong thời gian đang thực hiện công trình xây Kim Thân Phật, khi bê-tông vừa mới được đổ vào khuôn thì đài khí tượng Sàigòn báo tin một cơn bão cực mạnh từ biển Đông đang đánh vào nội địa, trung tâm bão sẽ tiến thẳng vào Vũng Tàu. Với sức tàn phá của bão, công trình mấy năm trời, chi phí hàng chục triệu chắc chắn sẽ bị phá hủy. Những vị trách nhiêm hết sức bối rối. Những cơn mưa và gió lớn đã đến khu vực Vũng Tàu càng khiến mọi người lo sợ. Nhưng đột nhiên, khi bão vào gần đất liền bỗng đổi hướng, rồi tan. Mọi người tin vào sự hộ trì của chư Phật, coi như một phép nhiệm mầu.

 

Trước đại lễ khánh thành, Đại Đức Narada từ Tích Lan rước ngọc Xá Lợi, đất Thiêng, cây Bồ Đề sang Việt Nam. Trong chuyến bay của Hàng Không Việt Nam thường lệ, ông Chủ Tịch biết có các báu vật thiêng liêng, đã xin phép đặc biệt từ Phủ Tổng Thống (lúc đó là thời đệ nhất Cộng Hòa -- Tổng Thống Ngô Đình Diệm) để phi cơ được vào thẳng bãi đáp VIP dành riêng cho nguyên thủ quốc gia, quốc khách. Đề nghị liền được chấp thuận. Khi Xá Lợi được rước xuống phòng khánh tiết danh dự, hàng hàng lớp lớp phật tử đã cung kính đảnh lễ, nghi thức kéo dài từ thủ đô đến Thích Ca Phật Đài Vũng Tàu. Xá Lợi được tôn trí trên chiếc Mercedes mầu đen, mở rộng cửa để Phật tử dọc hai bên đường chiêm bái.

 

Ngược thời gian, khi Thích Ca Phật Đài hoàn thành, ai ai cũng thấy công trình có tầm vóc quốc gia, nên đã vận động thành lập một Ủy Ban rộng lớn bao gồm các giáo hội Bắc, Nam Tông, Theravada, Phật Giáo Hoa Kiều, Gốc Miên... để chung lo đại lễ Khánh Thành. Ủy Ban Liên Phái Khánh Thành Thích Ca Phật Đài ra đời trong niềm hoan hỉ của tất cả phật tử vì xưa nay chưa có một Ủy Ban nào có tầm vóc như vậy được hình thành để chung lo phật sự. Điểm đáng lưu tâm là chính từ Ủy Ban Liên Phái Khánh Thành Thích Ca Phật Đài đã là tiền thân cho Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo (1963), đưa đến Hiến Chương Phật Giáo và tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sau này.

 

Trong ba ngày đại lễ khánh thành (9-11 March, 1963) ban tổ chức ước tính có khoảng từ 500 tới 700 ngàn chư tăng ni, phật tử, khách thập phương đổ về. Núi lớn được phủ kín bằng rừng người và cờ phật giáo. Một vị nữ phật tử hằng tâm hằng sản đã hoan hỉ cúng dường ngân khoản khoảng 5, 6 triệu để thực hiện hàng triệu phần trai phạn cho khách thập phương dự lễ.

 

Từ khi Phật Đài được xây dựng, đã có hàng chục triệu người đến chiêm bái hoặc thấy các hình chụp toàn cảnh Phật Đài. Đặc biệt có nhiều phật tử tôn trí hình chụp chính diện Kim Thân Đức Phật trên bàn thờ. Nhưng Phật Đài tọa lạc trên Núi Lớn, không có thế đất gần xa nào ngang tầm cao, làm cách nào có tấm hình quí giá đó? Nhiếp ảnh gia Phạm Kim Khánh (cũng là dịch giả một số tài liệu, kinh sách của Đại Đức Narada, với sự nhuận sắc của Cụ Hồ Đắc Thăng), đã được cơ quan thông tin Hoa Kỳ cung cấp một trực thăng riêng, có bộ phận chống rung động, rất tối tân vào thời đó, bay tới chính diện nhờ đó mới chụp được những tấm hình quí giá này.

 

Một cuốn kỷ yếu do Cụ Hồ Đắc Thăng ghi lại những nét chính của công trình trong mấy năm trời, phương danh tất cả các vị hằng tâm hằng sản, kể cả tên từng anh phu hồ, chị gánh đất... nhưng chính tên Cụ, người cống hiến tài năng, công lao nhất lại rất nhỏ bé, ghi sau cùng ở vào nơi nếu không tìm kiếm rất khó thấy. Ngay khi Thích Ca Phật Đài hoàn thành viên mãn, Cụ Hồ Đắc Thăng đã từ chối mọi công việc nơi đây, không nhận lãnh một phương vị, vinh dự nào khác. Những năm sau này, thỉnh thoảng một lão ông tóc trắng xóa, nhưng rất phương phi tới chiêm bái như mọi người, vị đó chính là Cụ. Với lớp môn sinh, Cụ đã thường căn dặn đại ý: ‘Các con cần nhớ rõ, khi làm xong một việc gì chỉ nên an vui trong lòng, đừng quyến luyến các thành quả đó nữa, có vậy mới đủ nhân duyên cho việc giải thoát’.

           

 

Cũng xin ghi thêm: ngôi Thích Ca Phật Đài do Cụ Hồ Đắc Thăng hưng công chỉ bao gồm Bảo Tháp, và Kim Thân Phật tọa thiền sát bên mà thôi. Sau này có thêm nhiều kiến trúc nữa nhưng chỉ thoáng nhìn đã thấy ngay sự khác biệt về nhiều mặt.

 

 Viết những dòng này, Thích Ca Phật Đài đã được khánh thành 40 năm qua, gần 30 năm từ khi mất nước người viết không có dịp trở lại nơi Phật tích có một không hai của quê hương. Chẳng biết ngày nay trong bối cảnh ‘kinh tế thị trường’, ‘mở cửa’ chung số phận như mọi cơ sở văn hóa, tôn giáo khác Phật đài có được trùng tu, gìn giữ đúng mức hay chỉ được khai thác cho lợi nhuận. Cội Bồ Đề hơn 40 năm trước vừa bằng cườm tay, nay ít ra cũng đã thành một đại thụ, cành lá sum xuê hay tàn lụi? Đại Đức Narada đã viên tịch, Cụ Hồ Đắc Thăng cũng đã mất năm 1973, hàng ngàn vạn vị đạo tâm có phước báu cúng dường vào việc tạo dựng Thích Ca Phật Đài cũng đã ra đi vì có ai đã ra khỏi vòng sinh tử luân hồi? Nhưng Thích Ca Phật Đài vẫn còn an trụ. Nhờ đến chiêm bái Phật Đài, hàng triệu phật tử, chúng sinh có cơ duyên tạo được nghiệp lành, tinh tấn trên đường giác ngộ. Phật tử thập phương, du khách khi rời Thích Ca Phật Đài tùy cơ duyên đều được nhiều phước báu, an vui, ngoài ra còn thỉnh về nhiều kinh sách, hình ảnh, kỷ vật... Nhưng trên hết, tóm gọn hơn cả là bốn câu được tạc sâu trên phiến cẩm thạch mặt trong tam quan để mọi người khi ra về đọc được:

 

‘Hạnh phúc thay Chư Phật giáng sinh,

Hạnh phúc thay Giáo Pháp cao minh,

Hạnh phúc thay Tăng Già hòa hiệp,

Hanh phúc thay Tứ Chúng đồng tu’.

(Kinh Pháp Cú)

 

Thiết nghĩ bốn niềm Hạnh Phúc trên mới thật sự là niềm Hạnh Phúc thường trụ, tối thượng vậy.